Trại Giam Tù Binh Phú Quốc Những Trang Sử Đẫm Máu

[ad_1]

Có một nhà tù tàn khốc nhất trong các loại nhà tù trên thế giới lại ít được biết đến một cách có hệ thống, đầy đủ là nhà tù Phú Quốc. Những năm gần đây, cùng với sự đầu tư của Trung ương, các doanh nghiệp trong và ngoài nước, Phú Quốc từ hòn đảo hoang vắng dần thay đổi trở thành “nàng tiên cá” lộng lẫy, thu hút hàng triệu khách du lịch đến tham quan, chiêm ngưỡng.

Một trong những điều du khách ngỡ ngàng khi đến Phú Quốc là di tích “Trại giam tù binh Phú Quốc” – chứng tích tội ác của đế quốc còn lưu lại trên hòn đảo ngọc này.

Tên tuổi của Phú Quốc gắn liền với những trang sử hào hùng. Khi nhà Nguyễn bị quân Tây Sơn đánh bại, Nguyễn Ánh đã 3 lần chạy ra đảo Phú Quốc nương náu. Sau khi 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ mất, Anh hùng Nguyễn Trung Trực rút về hoạt động ở 3 tỉnh miền Tây.

Tháng 6/1868, ông cùng nghĩa quân rút về Hòn Chông rồi ra Phú Quốc. Nhân dân và núi rừng Phú Quốc đã che chở người anh hùng, giúp ông tổ chức lại lực lượng, đánh địch nhiều trận ác liệt tại Hàm Ninh, Cửa Cạn. Nhưng bị chia cắt với đất liền do đường giao thông hiểm trở, nghĩa quân ngày càng hao mòn, lương thực thiếu thốn. Cuối cùng, nhân dân Phú Quốc đau lòng chứng kiến cảnh Nguyễn Trung Trực bị quân Pháp bắt, đem về Rạch Giá xử chém ngày 27/10/1868. Trước lúc hy sinh, Nguyễn Trung Trực đã nói một câu đầy khí phách anh hùng: “Bao giờ nhổ hết cỏ nước Nam thì dân Nam mới hết người đánh Tây”.

Lời nói của Nguyễn Trung Trực như một câu sấm truyền, bởi suốt hơn một thế kỷ sau ngày máu ông đổ xuống cho quê hương, Phú Quốc là nơi ghi dấu bao trang sử hào hùng của hàng ngàn chiến sĩ yêu nước. Vượt qua mọi hình thức tra tấn tàn bạo, vượt qua mọi chế độ hà khắc, các chiến sĩ – tù binh Phú Quốc đã viết tiếp những trang sử sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng…

Chưa có một nhà tù nào đặc biệt như ở Phú Quốc, bởi bản thân hòn đảo này cũng chính là một căn cứ địa cách mạng. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, nhân dân Phú Quốc đã đối mặt với muôn vàn khó khăn gian khổ, lực lượng mỏng, vũ khí thô sơ, xa đất liền, xa sự lãnh đạo của tỉnh, có lúc bị cô lập gần 2 năm trời do địch phong tỏa. Nhưng quân dân Phú Quốc vẫn kiên cường đương đầu với quân xâm lược, đặc biệt là đế quốc Mỹ với lực lượng quân đội hùng hậu, vũ khí và phương tiện chiến tranh thuộc loại hiện đại nhất thế giới. Hòn đảo ngọc này đã phải chịu đựng nhiều cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn của quân Mỹ, có cả hải lục không quân, thọc sâu vào căn cứ cách mạng.

Bị bao vây và bị đánh phá ác liệt, phong trào kháng chiến ở Phú Quốc không tránh khỏi những đau thương, tổn thất nhưng dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Kiên Giang và Huyện ủy Phú Quốc, nhân dân trên hòn đảo này kiên cường đứng dậy, bền bỉ phục hồi lực lượng, liên tục đánh địch, phá lỏng thế kềm kẹp của địch, không chỉ thu vũ khí tự trang bị cho mình mà còn đưa bộ đội về tiếp sức với đất liền.

Với địa hình đặc biệt và tính cách anh hùng, dẫu đất rộng người thưa, đường giao thông cách trở, Phú Quốc đã che chở cho hàng trăm tù nhân khi vượt thoát, vẫn tìm cách liên lạc, nuôi dưỡng cho các phong trào đấu tranh ở Trại giam tù binh Phú Quốc. Những trang sử vàng của Phú Quốc đã ghi lại những cuộc “đánh chiếm” vô tiền khoáng hậu này, ngay từ thời chống Pháp: Tháng 9/1949, “bộ đội Phú Quốc” từ hòn Sơn Rái vượt biển, đổ bộ lên đánh chiếm hãng Cây Dừa ở Nam Đảo, thu 40 súng. Năm 1948, Phú Quốc đưa một trung đội vào đất liền, bổ sung cho lực lượng khu…

Nhà tù Phú Quốc có một lịch sử vô cùng đặc biệt. Vào cuối năm 1949 đầu năm 1950, quân Quốc dân đảng Trung Hoa bị Quân giải phóng Trung Quốc đánh bại, phải chạy dạt sang biên giới phía bắc Việt Nam. Đám tàn quân này có trên 3 vạn người, được Pháp đưa ra trú ngụ ở phía nam đảo Phú Quốc. Sau khi Tưởng Giới Thạch rời khỏi Đại lục, tháo chạy ra đảo Đài Loan và tuyên bố hòn đảo này thuộc sự kiểm soát của Quốc dân đảng, đám tàn quân này trở về với chủ cũ.

Lợi dụng một số nhà cửa có sẵn của trại tàn binh, quân Pháp lập một trại giam tù binh trên một diện tích gần 40 ha, gồm 4 khu giam A, B, C, D; được gọi là “Căng Cây Dừa” (Trại Cây Dừa). Những chiến sĩ cách mạng bị địch bắt ở các chiến trường Trung, Nam, Bắc bị chúng tập trung đưa ra trại giam này ở Phú Quốc, khoảng 14.000 người, phần đông từ “Căng” Đoạn Xá (Hải Phòng), được chở ra Phú Quốc bằng tàu thủy.

Ngay từ những ngày đầu tiên đến “Căng Cây Dừa”, các đảng viên trong các khu nhà giam đã liên lạc với nhau, tổ chức được các chi bộ, Đảng bộ bí mật lãnh đạo anh em tù binh đấu tranh với địch, từ việc cử đại diện tù binh, tổ chức, lao động, sinh hoạt đến đấu tranh chống địch khủng bố, đàn áp, chống dụ dỗ lôi kéo bắt lính trong tù, tổ chức vượt ngục… Chỉ hơn một năm ở trại giam đã có 99 người chết, gần 200 người vượt ngục. Một số anh em thoát ra, được tham gia chiến đấu và công tác ở đảo, góp phần làm nên những chiến thắng của quân dân Phú Quốc. Một số về chiến đấu và công tác ở đất liền.

Tháng 7/1954, sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Pháp đã trao trả cho phía cách mạng hầu hết tù binh ở trại này.

Cuối năm 1955, trong lúc giao thời “thay thầy đổi chủ”, ngụy quyền Sài Gòn tranh thủ lập một trại giam cũng ở địa điểm “Căng Cây Dừa” cũ, trên một diện tích rộng 4 ha, gồm có nhà giam tù nam, nhà giam tù nữ, nhà giam phụ lão, được chúng đặt tên là “Trại huấn chính Cây Dừa”, có lúc gọi là “Nhà lao Cây Dừa”. Đầu tháng 1/1956, ngụy quyền Sài Gòn đưa 598 người tù, quê quán từ 33 tỉnh ở trại “Trung tâm huấn chính Biên Hòa” đến đề lao Gia Định, rồi đưa xuống chiếc tàu vận tải của hải quân, mang tên Hắc Giang, rời bến Sài Gòn ngày 2/1/1956.

Trầm Hương

[ad_2]

Viết một bình luận